BÀI TUYÊN TRUYỀN: KỶ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM – TỰ HÀO TRUYỀN THỐNG, VỮNG BƯỚC TƯƠNG LAI”
Lượt xem:
BÀI TUYÊN TRUYỀN: KỶ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM – TỰ HÀO TRUYỀN THỐNG, VỮNG BƯỚC TƯƠNG LAI”
I. Tự hào truyền thống anh hùng
Mỗi dịp tháng mười hai về, triệu triệu trái tim người Việt Nam lại cùng hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: Ngày Thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12). Đây không chỉ là ngày kỷ niệm sự ra đời của một lực lượng vũ trang cách mạng mà còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cùng ôn lại và tự hào về truyền thống “Quyết tử cho Tổ quốc Quyết sinh” của Quân đội ta, đồng thời khẳng định ý nghĩa sâu sắc của Ngày Hội Quốc phòng Toàn dân. Ngày 22/12 hàng năm đã trở thành biểu tượng cao quý cho ý chí độc lập, tự cường và là minh chứng sống động cho vai trò nòng cốt của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
II. Lịch sử hào hùng và ý nghĩa vĩ đại
1. Sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (nay thuộc tỉnh Cao Bằng), dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đồng chí Võ Nguyên Giáp và sự phê chuẩn của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã chính thức được thành lập. Lực lượng ban đầu chỉ gồm 34 chiến sĩ với 34 khẩu súng các loại. Nhiệm vụ trọng tâm được xác định rõ ràng: “Chính trị trọng hơn quân sự”, phải làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng là chính, đồng thời phải thực hiện nhiệm vụ quân sự, chiến đấu để diệt địch. Ngay sau khi thành lập, Đội đã lập nên chiến công vang dội với trận đánh đầu tiên tại Phai Khắt và Nà Ngần (25 và 26/12/1944), mở đầu cho truyền thống bách chiến bách thắng của Quân đội ta.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và 34 chiến sĩ đầu tiên trong ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
2. Truyền thống và phẩm chất của Quân đội Nhân dân Việt Nam
– Tinh thần “Vì dân, vì nước”: Quân đội luôn gần gũi, đồng cam cộng khổ với nhân dân, tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp dân phát triển kinh tế – xã hội.
– Kỷ luật nghiêm minh, tinh thần chiến đấu dũng cảm: Từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến công cuộc bảo vệ biên giới, tham gia gìn giữ hòa bình quốc tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo.
– Tinh thần đổi mới, hiện đại hóa: Trong thời bình, Quân đội vừa giữ vững quốc phòng, vừa tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên nhiều mặt trận.
Quân đội nhân dân Việt Nam chủ động tham gia thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.
3. Vai trò của Quân đội trong lịch sử và thời đại mới
– Trong kháng chiến: Là lực lượng nòng cốt thực hiện các chiến dịch lớn, góp phần làm nên thắng lợi giải phóng dân tộc.
– Trong xây dựng đất nước: Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, tham gia phòng chống thiên tai, dịch bệnh.
– Trong bảo vệ chủ quyền: Luôn sẵn sàng trong nhiệm vụ bảo vệ biên cương, biển đảo và lãnh thổ quốc gia.
-Trong quan hệ quốc tế: Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình, hợp tác quốc phòng, góp phần nâng cao uy tín, vị thế nước ta.
4. Ý nghĩa của danh xưng và Ngày hội Quốc phòng toàn dân
– Ý nghĩa: Là ngày khởi đầu của lực lượng vũ trang nhân dân tập hợp từ các lực lượng du kích, tự vệ, chính quy; đánh dấu sự ra đời của một quân đội mang bản chất nhân dân, phục vụ nhân dân, chiến đấu vì độc lập – tự do – hạnh phúc của nhân dân.
+ Giáo dục truyền thống: Tạo cơ hội cho học sinh hiểu lịch sử, yêu nước và tôn trọng lực lượng vũ trang.
+ Rèn luyện phẩm chất công dân: Khuyến khích tinh thần kỷ luật, trách nhiệm, lòng dũng cảm và tinh thần phục vụ cộng đồng.
+ Gắn kết nhà trường – quân đội – cộng đồng: Tổ chức các hoạt động giao lưu, thăm hỏi, trao đổi để học sinh thấy gần hơn với thực tiễn phục vụ đất nước.Trải qua các giai đoạn lịch sử với nhiều tên gọi khác nhau, từ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Quân Giải phóng, đến Quân đội Nhân dân Việt Nam (từ tháng 3/1945), Quân đội ta luôn giữ vững bản chất cách mạng: “Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”.
- Năm 1989, theo Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày 22/12 hằng năm được lấy làm Ngày Hội Quốc phòng Toàn dân. Điều này khẳng định: Quốc phòng là sự nghiệp của toàn dân. Quân đội là nòng cốt trong việc xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, bảo vệ thành quả cách mạng và cuộc sống bình yên của Nhân dân. Mối quan hệ đoàn kết quân – dân là sức mạnh vô địch.
5. Những chiến công vĩ đại
Trong suốt hơn 8 thập kỷ, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác:
a. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám (1945)
Lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân nổi dậy, đập tan xiềng xích thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
b. Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)
Đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Đây là bản anh hùng ca về tinh thần quyết chiến quyết thắng, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ tại Việt Nam.
Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
c. Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)
Quân đội ta đã vượt qua mọi gian khổ, đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ. Với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, chúng ta đã hoàn thành sứ mệnh giải phóng miền Nam, thống nhất non sông, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do.
Ảnh xe tăng 390 của Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2, lao thẳng qua húc đổ cổng Dinh Độc Lập (30/4/1975)
d. Xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc (1975 – Nay)
III. Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời đại mới – tầm nhìn chiến lược trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, QĐND Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc:
- Hiện đại hóa quân đội: Xây dựng quân đội Cách mạng, Chính quy, Tinh nhuệ, Hiện đại. Ưu tiên tiến thẳng lên hiện đại ở một số quân chủng, binh chủng (Hải quân, Phòng không – Không quân, Thông tin liên lạc, Cảnh sát biển…).
- Hòa bình và Hợp tác: Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “4 không”. Đồng thời, chúng ta tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, khẳng định vị thế và trách nhiệm của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Đội quân công tác và lao động sản xuất: Quân đội luôn đi đầu trong phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ cứu nạn. Hình ảnh người chiến sĩ lội bùn giúp dân sau bão lũ hay trực chiến trong đại dịch COVID-19 là minh chứng sống động nhất cho tình quân dân.
IV. Các hoạt động của trường học hướng về ngày truyền thống
Hòa chung không khí tự hào của cả nước, trường THCS Nghĩa Tân tổ chức chuỗi hoạt động thiết thực nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng biết ơn sâu sắc tới các thế hệ cha anh trong Quân đội Nhân dân Việt Nam:
1. Lễ chào cờ trang trọng kèm phần ôn lại lịch sử, phát biểu của Hiệu trưởng .
2. 💌 Hoạt động “Gửi lời yêu thương đến người lính”
Nội dung: Phát động phong trào viết thư tay, vẽ tranh, làm bưu thiếp tri ân gửi tặng các chú bộ đội đang làm nhiệm vụ tại biên giới, hải đảo hoặc các đơn vị kết nghĩa.


Mục đích: Thể hiện tình cảm, sự sẻ chia và lời chúc tốt đẹp nhất của tuổi trẻ học đường tới các chiến sĩ.
3. Chương trình truyền thông trên website/trang Facebook trường: Bài viết, video ngắn, ảnh, infographics về lịch sử và các tấm gương.
V. Lời kết
Ngày 22/12 không chỉ là mốc lịch sử đáng tự hào của Quân đội Nhân dân Việt Nam mà còn là dịp để thế hệ trẻ – trong đó có học sinh, giáo viên của trường chúng ta thấm sâu truyền thống yêu nước, lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Kỷ niệm 81 năm Ngày Thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, toàn thể cán bộ, giáo viên và học sinh trường THCS Nghĩa Tân xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn trước những hy sinh thầm lặng, vĩ đại của các thế hệ cha anh. Chúng tôi nguyện tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, nỗ lực thi đua học tập, rèn luyện đạo đức, giữ vững tinh thần kỷ luật và ý chí kiên cường như phẩm chất của người lính Bộ đội Cụ Hồ, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ đi trước.
Tự hào thay: Người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam!
Tác giả: Lê Thị Thắm – Giáo viên Ngữ văn trường THCS Nghĩa Tân

